16:50 EDT Thứ năm, 27/07/2017
Đổi mới để khẳng định, để phát triển, để nâng tầm, vươn xa.








Danh ngôn cuộc sống

Tình yêu:Tình yêu là một tình cảm vĩ đại nhất, nó sáng tạo nên điều kỳ diệu, sáng tạo nên những con người mới, nó làm ra những giá trị vĩ đại nhất của con người.Makarenko

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 30
  • Hôm nay: 1233
  • Tháng hiện tại: 38115
  • Lượt truy cập: 24627039

Ngôn ngữ trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến

Thứ năm - 06/10/2016 07:10
Thái độ trào phúng của Nguyễn Khuyến bao giờ cũng biểu lộ những sắc thái nghệ thuật đặc biệt. Sinh trước Tú Xương 30 năm, được chứng kiến sự biến chuyển của xã hội trong buổi giao thời một cách trọn vẹn, Nguyễn Khuyến không vội vàng hấp tấp. Thi nhân là một nho sinh cho nên không dùng những lời sỗ sàng, tàn nhẫn và gay gắt. Khi châm biếm, đùa cợt, chỉ trích thói đời, Nguyễn Khuyến chỉ dùng những lời tao nhã, lịch sự, tế nhị nhưng càng nghĩ càng thấm thía cái dụng ý sâu sắc của nhà thơ.
Vì thế, lời lẽ kín đáo được xem là một đặc tính nghệ thuật trong thi ca trào phúng của Nguyễn Khuyến. Thi nhân thường mượn một hình thức tầm thường bên ngoài để che đậy cái nội dung sâu kín bên trong. Mỗi lần muốn chỉ trích một đối tượng nào, nhà thơ thường không nêu đích danh mà chỉ dùng những từ đa nghĩa với lối nói gián tiếp. Nói đến quan lại bất tài, hống hách, Nguyễn Khuyến đã dùng những lời cười cợt nhẹ nhàng, nhưng khi đi vào chiều sâu chúng ta mới thấy là những lời mạt sát “Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe -  Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi” (Tiến sĩ giấy). Với âm thanh cười bảnh chọe để rồi pha vào cái cười mỉa mai ấy sự chua chát, đắng cay khi phải phơi bày sự thật tiến sĩ thật hay tiến sĩ giấy cũng đều là một thứ đồ chơi. Lời chỉ trích, phê phán không nặng nề, không phải là những lời trắng trợn, song ý tứ thật sâu xa.
Chẳng hạn để châm biếm bọn người dựa hơi quan, rồi ngỡ mình là quan có thái độ ngông nghênh, tự phụ, thi sĩ mượn lời vợ anh phường chèo để kín đáo chỉ cho họ thấy:
Vua chèo còn chẳng ra gì,
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề.
Vua chèo, quan chèo chỉ là những nhân vật trên sân khấu để mua vui cho thiên hạ chẳng khác chi thằng hề. Thế mà lúc nào họ cũng nghĩ rằng trong thực tế mình cũng là quan, là vua. Lời vợ anh phường chèo hay chính là lời của Nguyễn Khuyến muốn gửi đến bọn quan lại bù nhìn trong triều lúc bấy giờ. Những kẻ ngu, dốt, vô liêm sỉ và cứ trơ trơ không biết nhục trước cảnh nô lệ.

Với tài dùng ngôn ngữ, ông đã thành công trong thơ văn trào phúng. Ông có một cách trào lộng riêng, không giống Hồ Xuân Hương trước kia mà cũng không giống Trần Tế Xương sau này. Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương đều trẻ, lòng sôi nổi bồng bột. Cuộc đời chạm vào họ là như nảy ra lửa. Cả hai đều cười to tiếng, cười ngặt nghẽo, không chút dè dặt. Cho nên khi cay độc thì thật là cay độc. Đó là thứ cười “đánh một cái cho chết”. Trái lại, cái cười của Nguyễn Khuyến nói chung là nhẹ nhàng, mát mẻ, hóm hỉnh, ít khi sâu độc. Dù sao Nguyễn Khuyến cũng là một bậc túc nho. Cho nên khi chỉ trích người đời hay chế giễu bản thân chỉ là những nụ cười khà, hiền lành luôn có tính cách xây dựng. Đồng thời mang nhiều tính chất giáo dục làm cho những đối tượng bị thi nhân trêu trọc phải ngẫm nghĩ và nghiệm xét hành động của mình.

Xem Hội Tây, ông nhắc nhở những người quá say mê. Thanh niên quên cái nhục mất nước, hăng hái tham gia các trò giải trí hạ nhân phẩm thì còn ai nghĩ đến chuyện cứu vớt giang sơn. Từ thằng bé lom khom đến bà quan tênh nghếch, rồi các cô, các cậu, kẻ ỷ sức, người tham tiền, đua nhau quay cuồng trong ngày hội. Nhìn cảnh ấy, tác giả đau đớn mà thốt lên rằng ‘‘Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu!’’
Cũng với những lời lịch sự, ôn tồn, nhã nhặn như thế, thi sĩ Hỏi thăm quan Tuần mất cướp. Điều cần lưu ý là viên quan này vốn nổi tiếng tham nhũng làm giàu trên xương máu của kẻ khác:
Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,
Nó lại lôi ông đến giữa đồng.
Lấy của, đánh người quân tệ nhỉ!
Xương già, da cóc có đau không?
Thoáng nghe qua lời lẽ sao tha thiết, nhịp thơ dồn dập thể hiện sự quan tâm rất mực của nhà thơ đến bạn. Nhưng khi suy kĩ lại là một nụ cười hả hê thích thú. Bởi những kẻ tham lam, độc ác rồi cũng có ngày bị người khác trừng trị. Nếu ai hời hợt thì chỉ thấy được sự quan tâm của tác giả Xương già, da cóc có đau không? mà khó có thể phát hiện ra một thái độ châm biếm mỉa mai vô cùng kín đáo và sâu sắc của Nguyễn Khuyến. Với cách nói bóng gió này đối tượng bị chỉ trích tuy ít mất thể diện nhưng quyết chắc đã lấy làm tự thẹn về tác phong của mình.
Nguyễn Khuyến tỏ ra vừa thương vừa giận thói đời, bọn người đời đã không giữ được bản tính Chân – Thiện – Mỹ. Tâm trạng phân đôi, vừa thương vừa giận ấy trở thành lối suy nghĩ thể hiện trong hầu hết các bài thơ và câu đối trào phúng của Nguyễn Khuyến. Có thể mượn đôi câu đối Tặng người học trò cũ đi làm cho Tây để nói lên tâm tình của nhà thơ.
Hay thật là hay đáo để! Bảo một đàng quàng một nẻo;
Thôi thế thời thôi cũng được! Phi đằng nọ tắc đằng kia.
Nhà thơ chê trách, phê phán người học trò cũ đã không làm theo lời dạy của thầy mà ra làm tay sai cho quân cướp nước. Nguyễn Khuyến rất tài tình khi sử dụng thành ngữ Bảo một đàng quàng một nẻo ; Phi đằng nọ tắc đằng kia để chỉ trích thói ham danh lợi của người học trò. Lời thầy dạy là những lời chính nghĩa, phải biết trung quân, ái quốc thế mà học trò đâu làm theo như thế. Nhà thơ cười cho cuộc đời, cười cho người đời và cười cho chính bản thân mình. Đạo nghĩa không còn giá trị mà đồng tiền có thế lực vạn năng đã làm cho con người ngày càng tha hóa.
Khi sử dụng vũ khí trào phúng, Nguyễn Khuyến tiếp tục phát huy truyền thống dân tộc đã được hun đúc từ các thế kỷ trước, đặc biệt là thế kỷ XVIII. Thái độ trào phúng của Nguyễn Khuyến không riết róng như Tú Xương, mà thường nhẹ nhàng, mát mẻ, nhiều khi kín đáo, “ý tại ngôn ngoại”. Chỉ trích bọn quan lại tham nhũng hồi cuối thế kỷ XIX, bằng cách nói bóng gió Nguyễn Khuyến không trực tiếp vạch ra tội ác của chúng, ông chỉ nhân việc bọn quan lại triều Minh bóp nặn ba trăm lạng vàng của Vương viên ngoại mà viết:
Có tiền việc ấy mà xong nhỉ!
Đời trước làm quan cũng thế a?
(Kiều bán mình)
Những tưởng rằng chỉ có đời nay quan lại mới biết ăn hối lộ, té ra từ đời xưa trong hoạn trường, trong chính giới đã có nạn này rồi. Lời phê phán một việc oan ức của lương dân từ đời xưa mà ý văn đả kích thói tham tàn của bọn quan lại đời nay một cách rất độc đáo. Thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến có những cái bất ngờ như thế. Nó như những thứ “mìn chìm” mà mũi tên đả kích phóng ra từ sau những câu hiền lành.
Nguyễn Khuyến có tài nêu bật lên mâu thuẫn giữa các hiện tượng rồi khiến cho mọi người phải đồng tình với sự căm thù, khinh ghét của ông. Mức độ trào phúng của Nguyễn Khuyến cao hay thấp, nặng hay nhẹ là tùy vào từng đối tượng. Đối với những kẻ như tri huyện Thanh Liêm, hay viên Tuần phủ bị mất cướp, hay viên Đốc học Hà Nam, thái độ châm biếm của ông là thái độ của đàn anh đứng ở vị trí trên mà nhiếc móc, mỉa mai kẻ dưới. Nhưng khi tạ lại viên Tuần phủ trẻ tuổi tặng ông một chậu hoa trà để “xỏ” thì ông lại mỉa mai một cách nhẹ nhàng:
Xem hoa ta chỉ xem bằng mũi,
Đếch thấy mùi thơm, một tiếng khà!
(Tạ lại người cho hoa trà)
Nhà văn là người thợ về ngôn từ. Chất mặn nằm trong bể, nhưng phải có người thợ muối lấy chất mặn ấy làm ra hạt muối thì chất mặn mới có trình độ cao: độ kết tinh. Nhà văn là người thợ ấy, vào trong cái bể ngôn ngữ bao la vô tận của quần chúng tìm lấy cái đẹp vĩ đại của ngôn từ đang hòa tan trong ấy và cấu tạo nên những tác phẩm. Ngôn ngữ trong thơ văn Nguyễn Khuyến đã đạt đến độ kết tinh. Chỉ hai câu thơ với mười bốn âm tiết mà gợi cho ta liên tưởng đến biết bao điều. Một cụ già mắt đã nhập nhèm, tay cầm chậu hoa mà xem hoa ta chỉ xem bằng mũi với một thái độ mỉa mai và một tiếng cười kín đáo đằng sau Đếch thấy mùi thơm, một tiếng khà! Cái cười kín đáo với cách nói ngọt thâm thúy của Nguyễn Khuyến là một thứ nghệ thuật được trau dồi đầy công phu. Trào phúng của Nguyễn Khuyến không phải là phanh phui, vạch mặt chỉ trán, mà ít nhiều còn có âm hưởng cảm thán theo đạo lý.

Châm biếm, trào phúng mà sao tác giả còn độ lượng quá, nhân ái quá! Phải chăng, Nguyễn Khuyến sinh ra vốn để làm một nhà nghệ sĩ gắn bó, yêu thương con người và để trở thành nhà thơ trữ tình chỉ muốn hát những lời êm đềm, dịu ngọt. Nhưng cuộc đời đâu có như Nguyễn Khuyến nghĩ! Trước cảnh nhiễu nhương của xã hội, dòng thơ trữ tình của nhà thơ không thể không cuồn cuộn nổi lên những con sóng giận dữ. Nỗi khổ tâm của nhà thơ là có giận dữ nhưng lại thấy không đành lòng. Phẩm chất nhân bản trữ tình vẫn như một lực lượng hướng tâm quy tụ mọi nguồn cảm hứng của Nguyễn Khuyến về một mối. Có lẽ chính tấm lòng nhân hậu, yêu thương con người như thế đã làm cho thơ trào phúng Nguyễn Khuyến dẫu chưa thật sắc nhọn, thích đáng, chưa đập mạnh như lối thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương, Tú Xương nhưng vẫn đúng hướng và tạo nên giá trị nhân bản, giá trị truyền cảm da diết, lâu bền.
Ngọc Giàu (Tổ Văn)
 
Báo Giáo dục & thời đại
Tin 24h.com.vn
Báo Tuổi trẻ
Báo VietNamNet